Liên hệ: 04.85886151-0986122292
Máy đo huyết áp Omron Nhật Bản:
1. Máy đo huyết áp Omron dùng cho mọi gia đình;
2. Đặc biệt cho người cao tuổi người cao huyết áp và người huyết áp thấp;
3. Máy đo huyết áp Omron giá rẻ nhất toàn quốc;
4. Kích thước gọn nhẹ có thể mang đi xa như du lịch, đi công tác;
5.Máy đo huyết áp Omron độ chính xác cao an toàn;
6. Máy đo huyết áp Omron bảo hành miễn phí chính hãng 3 năm, đổi mới trong vòng 1 tuần nếu lỗi do nhà sản xuất.
Liên tiếp nhiều
ngày qua, thời tiết miền Bắc mưa phùn, nồm ẩm khiến nhiều người cảm thấy khó
chịu và dễ đổ bệnh, đặc biệt là trẻ em, người già là đối tượng có sức đề kháng
giảm.
Thời điểm hiện tại đang trong giai đoạn chuyển mùa
đông xuân, tại các cơ sở y tế y khoa có rất nhiều trẻ em đến khám bệnh. PGS.TS
Nguyễn Thị Diệu Thúy, Trưởng Bộ môn Nhi, Trường ĐH Y Hà Hội cho biết, bệnh lý
hô hấp là bệnh lý nổi trội hàng đầu mùa đông xuân. Thời tiết khô, gió mùa về
chuyển sang độ ẩm nhanh, mưa phùn, làm cho trẻ thích nghi không kịp, dẫn đến
các bệnh lý cấp tính đường hô hấp như cảm cúm, viêm phế quản, viêm phổi...
Hô hấp là bệnh lý nổi trội hàng đầu
mùa đông xuân.
Cũng theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Nguyên Trưởng
khoa Nhi (BV Bạch Mai), thời tiết trở lạnh, bệnh thường gặp nhất ở cả người lớn
và trẻ em là viêm đường hô hấp, đặc biệt là trẻ em khiến trẻ bị viêm đường hô
hấp, viêm phế quản, viêm phổi. Cha mẹ thường chủ quan khi trẻ mới có các dấu
hiệu như chảy mũi trong, sốt nhẹ, ho nên thường tự điều trị. Tuy nhiên, diễn
tiến viêm phổi rất nhanh, có thể chỉ biểu hiện bệnh nhẹ nhưng khi con bị khó
thở, thở rít đưa đến viện thì đã bị viêm phế quản hoặc viêm phổi nặng.
Do đó, khi con bị sốt, ho, cha mẹ không nên tự ý
cho con dùng kháng sinh mà nên đưa đi khám để điều trị đúng. Trời lạnh nên tăng
cường chế độ dinh dưỡng cho trẻ, giữ ấm vừa, không nên mặc quá nhiều quần áo,
trẻ ra mồ hôi gặp lạnh càng dễ viêm phổi hơn.
Coi chừng bệnh tiêu
chảy
Khi thời tiết chuyển mùa từ nóng sang lạnh, thường
tạo ra sự thay đổi về môi trường, nhiệt độ, độ ẩm… gây ảnh hưởng đến sức khỏe
con người, làm tăng nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt đối với những người sức khỏe
yếu, sức đề kháng giảm hoặc không thích nghi kịp sẽ dễ bị nhiễm bệnh. Đồng thời
đây cũng là điều kiện môi trường thuận lợi cho các mầm bệnh (vi khuẩn, vi rút)
phát triển và lây lan. Bên cạnh các bệnh hô hấp thì tiêu chảy cũng là một bệnh
dễ mắc trong mùa lạnh.
Các bác sĩ cho biết, nguyên nhân chính của bệnh
tiêu chảy là do người bệnh ăn uống mất vệ sinh, không khoa học cộng thêm ô
nhiễm từ môi trường khiến bệnh tiêu chảy dễ phát sinh. Nguy hiểm nhất là những
trường hợp bệnh nhân khi bị tiêu chảy không được phát hiện và điều trị kịp thời
dễ dẫn tới tình trạng mất nước, nặng có thể sẽ tử vong.
Theo GS.TS Phạm Nhật An, Nguyên PGĐ BV Nhi Trung
ương, nếu người dân bị tiêu chảy cấp, cần phải để cho không mất nước, cần uống
dung dịch oresol sau mỗi lần đi ngoài. Việc dùng kháng sinh hay không, theo
đúng nguyên tắc phải có chỉ định của thầy thuốc về liều lượng vì nhiều trường
hợp không cần dùng. Có trường hợp dùng còn khiến bệnh nặng hơn. Nếu do dị ứng
thức ăn, không cần dùng thuốc đặc hiệu, miễn là không để mất nước điện giải.
Bệnh cảm cúm là một trong những căn bệnh phổ biến,
không chỉ với trẻ em, người già mà cả người trưởng thành cũng dễ mắc bệnh cảm
cúm khi thời tiết thay đổi. Khi bị cảm cúm, đa số mọi người thường bỏ mặc hoặc
tự điều trị bằng thuốc, thậm chí có người còn sử dụng cả kháng sinh để bệnh
nhanh khỏi. Việc lạm dụng kháng sinh trong điều trị cảm cúm thường không mang
lại kết quả, có khi còn để lại hậu quả nhờn kháng sinh trong điều trị bệnh sau
này. Bệnh cúm theo mùa có khả năng lây lan thành dịch, nhất là một số chủng cúm
A như H5N1, H1N1... rất phổ biến.
TTƯT.GS.TS Nguyễn Gia Bình, Trưởng khoa Hồi sức
tích cực, BV Bạch Mai, Chủ tịch Hội Hồi sức cấp cứu và Chống độc Việt Nam cho
biết, cúm là bệnh rất thông thường với các triệu chứng ho, sốt, đau đầu, đau
mình mẩy, rét run... sau một vài ngày thì đỡ. Tuy nhiên một số trường hợp sẽ
trở nặng, đặc biệt gần đây có một số chủng cúm nguy hiểm như cúm A/H5N1, người
ta vẫn gọi là cúm gia cầm vì xuất hiện ở gia cầm và lây sang người. Khi con
virus cơ thể người, có thể đi vào phổi, tàn phá phổi. Trước 2005, tỷ lệ tử vong
do bệnh cúm nguy hiểm có thể lên đến 80%. Với sự cố gắng của y học thế giới và
trong nước thì tỷ lệ này hiện còn khoảng 50%.
Bệnh cúm theo mùa có khả năng lây lan thành
dịch
Để phân biệt cúm A H5N1, H1N1, H3N2 là điều không
dễ dàng. Các triệu chứng lâm sàng của cúm sốt, đau đầu, sổ mũi, ho khan... hoàn
toàn giống nhau và chỉ khác là nếu đến ngày thứ 2-3 bệnh nhân thấy mệt hơn hoặc
khó thở, người dân hãy đến các cơ sở y tế gần nhất để khám, xét nghiệm máu,
chụp CT phổi để xác định xem bệnh nhân có nhiễm cúm hay không, có tiến triển
nặng hay không để có kế hoạch điều trị cụ thể.
“Nhiều khi người bệnh thường chủ quan, nghĩ là cảm
cúm thông thường không đến bệnh viện đến khi cơ thể không chịu nổi mới tới bệnh
viện thì lúc đó cơ thể đã bị tàn phá quá nhiều với hội chứng suy sụp đa phủ
tạng. Dù với hệ thống máy móc hỗ trợ tim, phổi, gan, thận có nhiều nhưng tỷ lệ
tử vong cũng khá cao. Dù không nhất thiết phải đến bệnh viện ngay ngày đầu
nhưng bệnh nhân và người thân khi thấy trở bệnh nặng thì chúng ta phải đến các
cơ sở y tế để có các thiết bị chẩn đoán, theo dõi được tốt hơn”- GS. Bình
khuyến cáo.
Dịp cận Tết, thời tiết giá lạnh như hiện nay có
nhiều mối đe dọa cho sức khỏe, vì vậy, người dân cần quan tâm, chủ động thực
hiện các biện pháp nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh trong dịp tết. Cục Y tế
dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân cần giữ ấm cơ thể khi thời tiết chuyển
lạnh; ủ ấm cho trẻ em khi đi xe máy, khi ra ngoài trời; khi làm việc ngoài
trời, ra ngoài trời vào ban đêm, sáng sớm phải mặc đủ ấm, lưu ý giữ ấm bàn
chân, bàn tay, ngực, cổ, đầu.
Xem thêm Video máy đo huyết áp Omron
Tránh tiếp xúc với những người đang có dấu hiệu bị
các bệnh truyền nhiễm như cúm, bệnh đường hô hấp, tiêu chảy, sởi, rubella, thủy
đậu… Hạn chế đến những chỗ đông người.
Ăn uống đủ chất, đảm bảo dinh dưỡng, ăn nhiều hoa
quả để giúp cơ thể tăng cường dinh dưỡng, nâng cao sức đề kháng. Ăn cân đối các
nhóm dưỡng chất: tinh bột, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất. Uống
nước ấm, tránh ăn, uống những thức ăn, nước uống lấy trực tiếp từ tủ lạnh. Đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không ăn tiết canh, không sử dụng gia cầm/sản
phẩm từ gia cầm ốm, chết và không rõ nguồn gốc để chế biến thực phẩm.
Tiêm vắc xin phòng bệnh đầy đủ và đúng lịch (đối
với các bệnh có vắc xin phòng bệnh như: sởi, rubella, ho gà…).
Đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh gia đình, giữ
ấm nhà cửa. Đảm bảo vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay với xà phòng, vệ sinh
mũi, họng hàng ngày bằng nước muối. Khi có các dấu hiệu nghi bị bệnh cần đến
ngay cơ sở y tế để được khám, xử trí kịp thời.
-> Chuyên cung cấp máy đo huyết áp Omron : Tel: 024.85886151 - 0986 122
292
Bệnh tiểu đường ngày càng
phổ biến trong cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, với những biện pháp duy trì lối sống
lành mạnh, bạn có thể hoàn toàn tránh xa nguy cơ mắc phải nó.
1. Quản lý trọng lượng
Béo phì là một trong các yếu tố nguy cơ cao nhất
đối với bệnh tiểu đường loại 2. Vì vậy, bạn nên cố gắng duy trì một trọng lượng
khỏe mạnh. Theo ước tính, mỗi 20% trọng lượng tăng lên vượt mức lành mạnh, nguy
cơ phát triển bệnh tiểu đường sẽ tăng gấp đôi. Các chuyên gia cho biết giảm 5%
trọng lượng sẽ giúp phòng tránh nguy cơ bệnh tiểu đường tốt hơn. Do đó, bạn nên
cố gắng duy trì trọng lượng cơ thể ở mức khỏe mạnh và ổn định.
2. Thường xuyên vận động
Lối sống ít vận động làm tăng nguy cơ mắc bệnh
tiểu đường. Vận động giúp cơ thể tăng cường sử dụng hormone insulin một cách hiệu
quả hiệu quả. Hơn nữa, tập thể dục thường xuyên sẽ giúp bạn giảm cân, làm giảm
nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường.
3. Tập thể dục
Một nghiên cứu ở Phần Lan phát hiện ra rằng những
người tập thể dục khoảng 35 phút mỗi ngày có nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường
ít hơn 80% so với người không tập thể dục. Nguyên nhân là do tập thể dục giúp
tăng cường tiêu thụ insulin trong các tế bào và giúp di chuyển đường trong máu
vào trong các tế bào. Theo một nghiên cứu khác cho phụ nữ tập thể dục nhiều hơn
một lần một tuần giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường đến 30%.
4. Ăn ít carbohydrate
Những người mắc bệnh tiểu đường vốn được chỉ định
hạn chế ăn nhiều carbohydrate. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng lượng
carbohydrate cao làm tăng nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường. Để ngăn ngừa bệnh
tiểu đường phát triển, bạn nên kiểm soát lượng thực phẩm chức carbohydrate một
cách hợp lý.
5. Hạn chế thức ăn nhanh
Thức ăn nhanh có chứa tinh bột tinh chế, đường,
muối và nhiều chất béo. Trong một nghiên cứu được tiến hành bởi các nhà
khoa học Minnesota (Mỹ), 3.000 người cân nặng bình thường, trong nhóm tuổi từ
18 đến 30 đã được theo dõi chặt chẽ. Những người ăn thức ăn nhanh nhiều hơn hai
lần một tuần đã phát triển gấp đôi tỷ lệ kháng insulin và tăng thêm 4,5kg trọng
lượng so với những người ăn thức ăn nhanh ít hơn một lần một tuần. Do đó, thay
vì thức ăn nhanh, bạn nên chọn các loại hạt hoặc trái cây cho cơn thèm ăn.
Xem
thêm Video máy đo đường huyết
6. Ăn nhiều chất xơ
Nên làm phong phú chế độ ăn uống của bạn với các
loại thực phẩm chứa nhiều chất xơ. Tránh hoặc giảm thiểu những thức ăn có tinh
bột tinh chế. Lượng chất xơ cao và các sản phẩm ngũ cốc nguyên hạt giúp
làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 2. Rau củ quả là thực phẩm nên
có mặt hàng ngày trong thực đơn ăn uống của gia đình bạn.
7. Tránh thịt đỏ và thịt chế biến
Thịt đỏ như thịt bò chứa cholesterol khá cao,có
thể đặt bạn vào nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường cao hơn. Do đó, không nên
quá lạm dụng thịt đỏ. Một nghiên cứu cho biết phụ nữ ăn thịt đỏ hàng ngày có
nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường cao hơn 29% so với phụ nữ ăn ít hơn một lần
một tuần. Tương tự như vậy, ăn thực phẩm chế biến như hotdog làm tăng nguy cơ
tiểu đường lên 43%.
8. Dùng bột quế
Các nhà khoa học tin rằng các hợp chất có trong
bột quế có thể kích hoạt các enzyme kích thích hấp thụ insulin. Quế cũng giúp
làm giảm cholesterol, triglyceride và các chất béo hiện diện trong máu,
do đó làm giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường.
9. Uống cà phê
Uống khoảng 4 đến 5 tách cà phê thực sự giúp giảm
nguy cơ của bệnh tiểu đường đến 29 %. Các nhà nghiên cứu tại Harvard cho biết
con số này sau khi nghiên cứu 126.210 phụ nữ uống cà phê. Các nhà khoa học cho
rằng caffeine có thể giúp thúc đẩy quá trình trao đổi chất. Ngoài ra, cà phê có
chứa chất chống oxy hóa , kali và magiê giúp hấp thụ đường của các tế bào.
10. Tránh căng thẳng
Stress cũng có thể làm tăng lượng đường trong
máu do nó làm tăng nhịp tim và tỷ lệ hô hấp của cơ thể. Vì thế, bạn nên thư
giãn suốt cả ngày trong mọi hoạt động mà bạn tham gia. Bạn có thể áp dụng một số
kỹ thuật quản lý căng thẳng như yoga hay thiền định để bắt đầu ngày mới. Hít thở
sâu bất cứ khi nào bạn bắt đầu thấy căng thẳng. Khi điều này trở thành thói
quen, bạn có thể ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh tiểu đường.
Tất cả những người trên 45 tuổi, người trẻ có tiền
sử gia đình về bệnh tiểu đường cần kiểm tra lượng đường trong máu mỗi 2 năm 1 lần.
Bằng cách này, bạn có thể thực hiện các biện pháp phòng ngừa tích cực nếu có
nguy cơ mắc các loại tiềntiểu đường.
Video hướng
dẫn sử dụng máy đo đường huyết OneTouch Ultra2
Chuyên cung cấp máy đo tiểu đường BẢO HÀNH TRỌN ĐỜI
Cao
huyết áp (CHA) là bệnh khá phổ biến, đây là bệnh thường gặp trong cộng đồng và
gia tăng theo lứa tuổi. Trong đó cao huyết áp trong thời gian mang thai là một
vấn đề quan trọng mà những người phụ nữ cần biết. Sau đây là nguyên nhân và
cách phòng ngừa bệnh cao huyết áp thai kỳ.
Sản phụ cần khẩu phần
ăn nhiều đạm, calo, không ăn mặn quá nhưng cũng không quá hạn chế muối và nước.
Cần tuân thủ việc điều trị tiểu đường nghiêm ngặt hoặc các bệnh nội khoa khác
đang có sẵn.
– Về nghỉ ngơi:
Sản phụ có thể nghỉ
ngơi tại nhà nếu bệnh nhẹ, tự đếm cử động thai, tự theo dõi các dấu hiệu trở
nặng như phù tăng, lên cân nhanh, nhức đầu nặng, mắt nhìn mờ, đau vùng gan,
buồn nôn, ói nhiều.
Cần nhập viện ngay
khi có một trong các dấu hiệu trên bởi thực tế lúc nào tiền sản giật biến thành
sản giật khó đoán trước được. Nếu xảy ra sản giật, sản phụ có thể rơi vào hôn
mê, phù não, xuất huyết não, phù phổi cấp, suy tim, bong nhau non gây tử vong
cho mẹ và con.
Xem thêm Video máy đo huyết áp Omron
– Tự theo dõi cân
nặng và huyết áp:
Phòng ngừa tốt nhất
là theo dõi huyết áp sớm và thường xuyên lúc mang thai, biết được tình trạng
huyết áp trước khi mang thai, tránh mang thai khi còn quá trẻ hay đã quá lớn
tuổi, điều trị ổn định các bệnh nội khoa trước khi mang thai.
Đây cũng là lý do tại
sao mỗi lần khám thai đều có đo huyết áp, xem cân nặng và thử nước tiểu. Ngoài
ra, chúng tôi cũng luôn khuyến khích các thai phụ tự theo dõi cân nặng và huyết
áp của mình. Cân nặng có thể tự theo dõi qua một cái cân cố định (của gia đình)
sẽ chính xác hơn mỗi lần dùng một cái cân khác nhau (khi đi khám thai). Tự theo
dõi huyết áp tại nhà cũng là điều hoàn toàn có thể thực hiện, với những máy móc
tự động, dễ sử dụng, giá thành không cao. Đây là một thực hành tốt và khả thi,
rất nên khuyến khích người dân, đặc biệt các thai phụ.
-> Chuyên cung cấp máy đo huyết áp Omron : Tel: 024.85886151 - 0986 122
292
Không giống các trẻ lớn, trẻ sơ sinh
bị viêm phổi có các triệu chứng khó nhận biết hơn. Đối với trẻ 5 hay 10 tuổi,
trẻ bị viêm phổi thường có các triệu chứng điển hình như ho, sốt. Còn đối với
trẻ sơ sinh, trẻ có thể không có 2 triệu chứng này, hoặc sốt rất nhẹ, do đó các
bậc cha mẹ cần hết sức lưu ý. Dưới đây là một số kiến thức giúp các bậc cha mẹ
hiểu hơn về bệnh viêm phổi.
Trẻ sơ sinh rất dễ bị viêm phổi
Cho đến nay, dù đã có nhiều tiến bộ trong công tác phòng bệnh và điều
trị, viêm phổi vẫn là bệnh thường gặp ở trẻ em và là một trong những nguyên
nhân gây tử vong ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ dưới 1 tuổi và trẻ sơ sinh. Ở nước
ta, theo thống kê của chương trình phòng chống viêm phổi thì trung bình mỗi năm
1 trẻ nhỏ có thể mắc nhiễm khuẩn đường hô hấp 3 – 5 lần trong đó khoảng 1 – 2
lần viêm phổi. Khi bị viêm phổi, trẻ bị viêm các phế quản nhỏ, các phế nang và
các tổ chức xung quanh phế nang. Tổn thương viêm rải rác 2 phổi làm rối loạn
trao đổi khí dễ gây suy hô hấp, ở trẻ sơ sinh bệnh hay tiến triển nặng, có thể
gây tử vong.
Khi trẻ nhỏ bị viêm phổi, nguyên nhân đầu tiên cha mẹ thường nghĩ tới là
do thời tiết lạnh. Tuy nhiên đó chỉ là một tác nhân, còn những nguyên nhân dẫn
tới căn bệnh này thực ra đã có từ rất sớm.
Trẻ sơ sinh bị viêm phổi chủ yếu do các loại vi khuẩn như Listeria,
Coli, các vi khuẩn Gram âm. Nhiễm khuẩn phổi có thể xảy ra từ trước, trong hoặc
sau khi đẻ, liên quan tới thời gian vỡ ối trước khi đẻ.
Cụ thể như sau:
·Thời gian vỡ ối từ trên 6 giờ đến 12 giờ trước đẻ: 33% trẻ bị viêm phổi.
·Vỡ ối từ trên 12 giờ đến 24 giờ trước đẻ: 51,7% trẻ bị viêm phổi.
·Vỡ ối từ trên 24 giờ trở lên: 90% trẻ bị viêm phổi.
Trong khi đỡ đẻ, hồi sức sau đẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh cũng cần thực
hiện vô trùng vì trẻ sơ sinh rất dễ bị nhiễm khuẩn từ dụng cụ và môi trường,
người chăm sóc.
Trẻ sơ sinh có thể bị viêm phổi là do hít phải nước ối, phân su đã bị
nhiễm khuẩn hoặc dịch tiết ở đường sinh dục của người mẹ trong lúc trẻ chuẩn bị
chào đời.
Thêm nguyên nhân khiến trẻ sơ sinh bị viêm phổi đó thai nhi trong tử
cung bị thiếu dưỡng khí. Trong quá trình mang thai, người mẹ phải đi kiểm tra
định kỳ, nhất là giai đoạn cuối, để phát hiện tình trạng này và có biện pháp
can thiệp kịp thời.
Ngoài ra, những trẻ thiếu cân do các phản xạ đường thực quản còn chưa
hoàn thiện, vận động cơ chưa đều đặn nên thường xuyên bị trào ngược thực quản
dạ dày khiến sữa bị hít nhầm vào phổi, gây ra các triệu chứng thở gấp, hụt hơi,
tím tái mắt, lượng sữa hít vào càng nhiều thì triệu chứng càng nặng, gây ra
viêm phổi. Trẻ bị các bệnh như viêm khoang miệng, viêm da, viêm dây rốn cũng có
thể dẫn tới viêm phổi.
Viêm phổi ở trẻ sơ sinh, triệu chứng của bệnh ban đầu thường nghèo nàn,
và không rõ ràng. Vậy nên nếu thấy trẻ có những dấu hiệu bú kém hoặc bỏ bú, sốt
trên 37,5oC hoặc hạ thân nhiệt; Thở nhanh trên 60 lần trong 1 phút hoặc khó thở.
Khi có triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã nặng: Trẻ sốt hoặc hạ thân nhiệt, li bì,
đáp ứng kém với kích thích, bú kém hoặc bỏ bú, nôn nhiều, chướng bụng, khó thở,
rút lõm lồng ngừng, tím tái… Do đó, cha mẹ hoặc người thân cần chú ý tình trạng
của trẻ để phát hiện sớm các dấu hiệu ban đầu khi trẻ có biểu hiện sốt, bỏ bú,
thở nhanh… phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời
tránh biến chứng nặng có thể dẫn đến tử vong.
Cha mẹ có thể dễ dàng quan sát nhịp thở của trẻ bằng cách vén áo để quan
sát sự di động của lồng ngực hoặc bụng, Phải quan sát lúc trẻ nằm yên hoặc ngủ,
không được quan sát lúc trẻ đang quấy khóc. Nếu trẻ có thở nhanh, sẽ thấy sự di
động đó nhanh hơn những ngày trẻ bình thường. Có thể phát hiện trẻ thở thanh
bằng các chỉ số dưới đây: ·Đối với trẻ từ 1-5 tuổi, nếu thở từ 40 lần trong 1 phút trở lên; ·Đối với trẻ từ 2 tháng đến 1 tuổi, nếu thở từ 50 lần trong 1 phút trở
lên; ·Đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi, nếu thở từ 60 lần trong 1 phút trở lên.
Cũng có thể nhận biết bằng cách khác, vén áo trẻ lên và quan sát lồng
ngực. Nếu thấy trẻ thở khác thường hoặc khi thở phát ra một tiếng bất thường
nào đó, cũng có thể trẻ đã bị viêm phổi.
Quan sát phần ranh giới giữa ngực và bụng xem có dấu hiệu lõm vào khi
trẻ hít vào hay không? Ðể quan sát dấu hiệu này dễ dàng và chính xác, hãy bế
trẻ nằm ngang trên lòng mẹ hoặc đặt trẻ nằm ngang trên giường. Hiện tượng này
phải thấy thường xuyên ở bất kỳ nhịp thở nào của trẻ khi trẻ nằm yên hoặc ngủ
mới có giá trị, còn nếu chỉ thấy lúc trẻ quấy khóc hoặc khi cố gắng hít sâu
không được coi là co rút lồng ngực. Một trẻ có co rút lồng ngực chứng tỏ đã bị
viêm phổi nặng, cần được đưa đến bệnh viện điều trị ngay.
Tóm lại, các dấu hiệu nhận biết trẻ sơ sinh bị viêm phổi rất mơ hồ,
không giống nhau ở các trường hợp, vậy nên khi bạn gặp bất kỳ một dấu hiệu khác
lạ nào ở trẻ, bạn cần đưa trẻ sớm đến gặp bác sỹ để được thăm khám và có biện
pháp điều trị kịp thời trước khi bệnh chuyển sang giai đoạn nặng hơn.
-> Công ty CFV cung cấp máy xông mũi họng Omron; Tel: 024.85886151- 0986122292
Theo điều
tra mới nhất của Hội tim mạch học Việt Nam, năm 2016, khoảng 48% người Việt Nam
sẽ mắc bệnh tăng huyết áp. Đáng lo ngại, tăng huyết áp là bệnh dễ dẫn tới nhiều
biến chứng nguy hiểm và là nguyên nhân khiến 7 triệu người trên Thế giới tử vong
mỗi năm.
Thông tin trên được đưa ra tại Hội nghị Tăng huyết áp Việt Nam lần thứ
II với chủ đề “Tiếp cận đa ngành với Tăng huyết áp” Hội tim mạch học Việt Nam
và Phân hội tăng huyết áp Việt Nam tổ chức sáng 14.5 tại Hà Nội.
Hội nghị diễn ra trong hai ngày từ ngày 14 – 15/5/2016 thu hút 1.000 đại
biểu, các giáo sư, bác sĩ chuyên gia trong nước và quốc tế về tim mạch. Hơn 100
bài báo cáo chuyên môn với nhiều thông tin cập nhật, nghiên cứu mới nhất về
bệnh tăng huyết áp được trình bầy tại hội nghị.
Người Việt Nam bị tăng huyết áp là tình trạng đáng báo động
Phát biểu tại Hội nghị, GS.TS Nguyễn Lân Việt, Chủ tịch Hội Tim mạch học
Việt Nam cho biết, tăng huyết áp (THA) là một vấn đề rất thường gặp trong cộng
đồng, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu và dẫn đến cái chết của hàng triệu
người mỗi năm, đồng thời là nguyên nhân gây suy tim và đột quỵ não; là nguyên
nhân hàng thứ hai gây Nhồi máu cơ tim cấp. Tỷ lệ người mắc THA ngày càng tăng
và tuổi bị mắc mới cũng ngày một trẻ hóa.
Năm 2000, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), toàn thế giới
có tới 972 triệu người bị THA và con số này được ước tính là vào khoảng 15,6 tỷ
người vào năm 2025.
Hiện nay, cứ trung bình 10 người lớn có 4 người bị THA. Theo WHO, mỗi
năm có 17,5 triệu người chết về các bệnh tim mạch trên Thế giới, nhiều hơn gấp
4 lần tổng số người tử vong của 3 bệnh lý HIV/AIDS, sốt rét và lao phổi. Trong
đó, bệnh nhân tử vong vì tăng huyết áp và biến chứng của tăng huyết áp trên 7
triệu người.
Tại Việt Nam, năm 2000 có khoảng 16,3% người lớn bị THA, đến năm 2009 tỷ
lệ THA ở người lớn là 25,4% và năm 2016 tỷ lệ người lớn bị THA đang ở mức báo
động là 48%, một mức báo động đỏ trong thời điểm hiện tại.
Theo thống kê năm 2015 của Hội tim mạch học Việt Nam, trên 5.454 người
trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh
thành trên toàn quốc mắc THA.
Kết quả cho thấy, có 52,8% người Việt có huyết áp bình thường (23,2
triệu người), có 47,3% người Việt Nam (20,8 triệu người) bị tăng huyết áp. Đặc
biệt, trong những người bị tăng huyết áp, có 39,1% (8,1 triệu người) không được
phát hiện bị tăng huyết áp; có 7,2% (0,9 triệu người) bị tăng huyết áp không
được điều trị; có 69,0% (8,1% triệu người) bị tăng huyết áp chưa kiểm soát
được.
Bệnh THA được coi là “kẻ giết người thầm lặng” bởi bệnh không có những
triệu chứng điển hình. Không phải lúc nào người mắc bệnh THA cũng thấy khó
chịu. Một số người THA có triệu chứng lâm sàng như: chóng mặt, đau đầu, ù tai,…
Tuy nhiên, rất nhiều người THA lại không có biểu hiện này.
Nói về độ nguy hiểm của căn bệnh THA, GS.TS Phạm Gia Khải, nguyên Chủ
tịch Hội tim mạch học Việt Nam chia sẻ, THA dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm
như: bệnh tim, phình tách động mạch chủ, mắt, não, thận, tai biến mạch não…
Nhiều người không biết mình bị bệnh THA, do đó, nhiều trường hợp đột tử
nhưng trước đó 1-2 phút họ vẫn nói chuyện bình thường và cảm thấy khỏe mạnh.
Để phòng ngừa cũng như hạn chế tác hại từ căn bệnh THA, GS Khải khuyến
cáo, nên đo huyết áp vào những
thời điểm nhất định trong ngày, nhớ con số huyết áp của mình như nhớ
tuổi. Bên cạnh đó cần có chế độ dinh dưỡng như không ăn mặn, giảm bớt thực phẩm
có axit béo, mỡ động vật….
Hạn chế uống rượu bia, cần giảm cân với người béo phì, nên vận động thể
lực mỗi ngày như đi bộ 30 – 45 phút, vận động thể lực nhẹ nhàng 4-5 ngày 1
tuần. Đặc biệt, cần khám sức khỏe định kỳ 6 tháng 1 lần để phát hiện và điều trị sớm bệnh (nếu có).
Máy đo huyết áp tự động Omron Nhật Bản dùng đo huyết áp tại nhà
-> Công ty CFV Chuyên cung cấp máy đo huyết áp Omron : Tel: 024.85886151 - 0986 122
292
Tăng huyết áp và
đái tháo đường là hai bệnh độc lập, có mối liên quan, ngày càng phổ biến ở những
nước phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Nhiều nghiên cứu chứng minh
rằng hai bệnh này thường kết hợp với nhau, tỷ lệ bệnh luôn tăng theo lứa tuổi, và
tỷ lệ người tăng huyết áp ở người đái tháo đường gấp hai lần ở người bình thường.
Tăng huyết áp và đái tháo đường đều
là yếu tố nguy cơ cho bệnh lý mạch máu. Các yếu tố nguy cơ với bệnh lý mạch máu
thường gắn bó với nhau là: Tăng huyết áp, tuổi tác, stress, thừa cân hoặc béo
phì, chế độ ăn nhiều chất béo, nhiều muối, đường, lười vận động, nồng độ
cholesterol máu tăng, hút thuốc lá... Càng nhiều yếu tố, mức độ nguy cơ càng
cao.
Tăng huyết áp là một yếu tố làm tăng
mức độ nặng của đái tháo đường, ngược lại đái tháo đường cũng làm cho tăng
huyết áp, có thể xuất hiện trước hoặc được phát hiện đồng thời với đái tháo
đường, trở nên khó điều trị hơn. Dù người bệnh đái tháo đường ở type 1 hay type
2, nhưng khi có tăng huyết áp đều làm cho tiên lượng bệnh xấu đi rõ rệt; làm
cho tỷ lệ bệnh mạch vành và đột qụy tăng gấp 2- 3 lần so với người không bị đái
tháo đường. Bệnh làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh mạch máu : bệnh mạch vành,
tai biến mạch máu não, tắc mạch chi, bệnh võng mạc mắt, bệnh thận, bệnh lý thần
kinh. Việc làm giảm huyết áp sẽ giúp giảm các nguy cơ nêu trên được coi là một
mục tiêu quan trọng ở bệnh nhân ĐTĐ có tăng huyết áp.
Theo quan niệm hiện nay của Tổ chức Y
tế Thế giới thì huyết áp thấp hơn 120/80mmHg được xem là huyết áp tối ưu không
gây hại cho sức khoẻ. Trong đó 120 là huyết áp tâm thu; 80 là huyết áp tâm
trương. Gọi là tăng huyết áp khi tâm thu cao hơn 140mmHg hoặc huyết áp tâm
trương cao hơn 90mmHg.
* Một số có triệu chứng nhức đầu,
nhìn mờ, chóng mặt, buồn nôn, mặt phừng đỏ, mây mù trước mắt, tê tay nhất thời,
ruồi bay trước mắt, tiểu đêm, đau bụng hoặc đau ngực, khó thở.
Chính vì các triệu chứng thường không
rõ ràng như vậy nên những bệnh nhân đái tháo đường cần được kiểm tra huyết áp
định kỳ mỗi khi khám bệnh để kịp thời phát hiện và điều trị. Phần lớn người
bệnh phát hiện và điều trị muộn. Để hạn chế bệnh tăng huyết áp không được phát
hiện và điều trị kịp thờì, gần đây Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến khích việc
tự đo huyết áp tại nhà, nhằm giúp bệnh nhân có thông tin về mức huyết áp hàng
ngày, sự đáp ứng với thuốc hạ huyết áp và quan tâm hơn đối với vấn đề điều trị.
Khi huyết áp không được kiểm soát tốt
sẽ gây tác hại tới hàng loạt cơ quan Bệnh ở tim, đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ
tim, suy tim. Đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua. Bệnh thận mạn tính.
Bệnh động mạch ngoại biên. Tổn thương mắt.
Điều trị hợp lý huyết áp là yếu tố
quan trọng nhất làm chậm tiến triển của bệnh thần kinh do đái tháo đường, chiếm
khoảng 40% bệnh nhân đái tháo đường.
Mục tiêu điều trị
- Huyết áp ≤ 140/80mmHg . Đối với suy
thận không đái tháo đường, huyết áp ≤140/90 mmHg.
- Đề phòng tăng tỷ lệ bệnh và tỷ lệ
tử vong.
- Giảm yếu tố nguy cơ mạch vành.
- Giảm biến chứng vi mạch máu.
- Không gây ảnh hưởng đến việc kiểm
soát glucose máu, mỡ máu và các hằng số sinh học khác.
- Ổn định huyết áp lâu dài.
Những việc cần làm để điều trị tốt bệnh tăng huyết áp:
Để điều trị tốt bệnh tăng huyết áp
bạn cần thực hiện 3 điều sau đây:
* Đưa được huyết áp về mức qui định
* Thay đổi lối sống và dùng thuốc
* Điều trị các bệnh khác đi kèm theo.
Điều trị để mức huyết áp thấp hơn
140/90mmHg là bạn đã tự giúp cơ thể mình trách được các biến chứng nguy hiểm
của bệnh tăng huyết áp như: giảm 40% khả năng bị đứt mạch máu não, 50% khả năng
bị suy tim mãn, giảm 30% khả năng bị tai biến mạch máu não tái phát, và nhiều
biến chứng khác.
Dùng máy đo huyết áp Omron Nhật Bản để kiểm tra huyết áp thường xuyên
Trong các vấn đề điều trị không dùng
thuốc nêu trên thì hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ nếu có thể loại bỏ được, bỏ
hút thuốc lá mang lại các lợi ích sau cho sức khỏe:
Lợi ích tức thì
• 20 phút sau ngưng hút thuốc lá
huyết áp, mạch và nhiệt độ trở về bình thường.
• Sau 24 giờ các cơn đau tim bắt đầu
giảm.
• Sau 48 giờ ăn uống thấy ngon miệng
hơn.
• Sau 72 giò phế quản dãn ra hơn, hô
hấp dễ dàng hơn, lượng không khí hít thở tăng nhiều hơn.
• Sau 1-9 tháng giảm được những cơn
ho, tình trạng thở ngắn và thiếu hơi thở.
Lợi ích lâu dài
• Sau vài tháng ngưng thuốc lá nguy
cơ bệnh mạch vành tim bắt đầu giả rõ rệt và sau 3- 5 năm trở về giống như người
chưa hút thuốc lá.
• Sau 10 năm ngưng hút thuốc lá nguy
cơ ung thư phổi giảm 30-50%, sau 15 năm nguy cơ ung thư phổi giống như người
chưa hút thuốc lá.
• Ngưng hút thuốc lá còn làm giảm
nguy cơ ung thư khác như ung thư thanh quản, thực quản, tuỵ tạng, bàng quang.
• Ngưng hút thuốc lá còn làm giảm các
bệnh lý khác như tai biến mạch máu não, tắc mạch máu ở chân, bệnh phổi tắc
nghẽn mãn tính, viêm phổi và cải thiện được tình trạng khí phế thủng, viêm phế
quản.
• Ở bệnh nhân tiểu đường ngưng hút
thuốc lá làm giảm biến chứng tim mạch và tai biến mạch máu não.
1. Uống rượu quá nhiều, thường xuyên
say xỉn rất dễ bị đột quỵ,tai biến mạch máu não.
2. Có sự tỉ lệ thuận giữa bệnh tăng
huyết áp và sự uống rượu.
3. Người đang uống nhiều thường xuyên
khi ngừng rượu khi ngừng rượu đột ngột huyết áp có thể tăng vọt lên và gây tai
biến. Do đó nếu bạn đang nghiện rượu khi bỏ rượu cũng phải giảm từ từ trong 3
tháng đến mức độ có thể chấp nhận được.
4. Lượng rượu bia tối đa mà bạn có
thể uống mà không gây ảnh hưởng đến tim mạch là không quá 2 lon bia hay 60ml
rượu mạnh.
Sai lầm người bệnh hay mắc phải
1. Tự mua thuốc hạ huyết áp để uống.
Đã có nhiều trường hợp phải đưa đến bệnh viện cấp cứu do tự uống thuốc hạ huyết
áp.
2. Chỉ chữa bệnh khi huyết áp tăng
cao và ngừng thuốc khi huyết về bình thường.
3. Uống lâu dài với 01 toa thuốc mà
không tái khám để đánh giá lại tình trạng bệnh.