Bệnh cao huyết áp còn gọi là tăng huyết
áp, nhiều nơi còn gọi là tăng xông (tension). Bệnh thường này thường gặp trong
cộng đồng và gia tăng theo tuổi, chiếm 8-12% dân số. Một số yếu tố làm gia tăng
nguy cơ cao huyết áp như
tiểu đường, thuốc lá, tăng lipid máu, di truyền.
Cao huyết áp là một căn bệnh mà áp
lực trong máu động mạch tăng cao mạn tính. Theo mỗi nhịp đập, trái tim bơm máu
theo các động mạch đi nuôi cơ thể. Huyết áp của máu là lực mà máu đẩy đi tác
động lên thành mạch. Nếu như áp lực này quá cao thì trái tim phải hoạt động
nhiều hơn để bơm máu. Điều này có thể gây ảnh hưởng đến các cơ quan như cơn đau
tim, đột quỵ, suy tim, rối loạn nhịp hoặc là tổn thương thận.
Mức huyết áp bình thường là 120/80
mmHg, con số 120 biểu thị cho huyết áp tâm thu (áp lực cao nhất trong lòng động
mạch) và 80 biểu thị cho huyết áp tâm trương (áp lực thấp nhất trong động
mạch). Mức huyết áp từ trên 120/80 tới 139/89 được gọi là tiền tăng huyết áp
(chứng tỏ có nhiều nguy cơ bị tăng huyết áp), huyết áp từ 140/90 trở lân được
gọi là tăng huyết áp.
Tăng huyết áp có thể là nguyên
phát hay thứ phát. Tăng huyết áp nguyên phát tức là tăng huyết áp mà không tìm
ra được nguyên nhân, chiếm tới 95% trường hợp người lớn bị tăng huyết áp. Tăng
huyết áp thứ phát là thuật ngữ dùng để chỉ là tăng huyết áp mà biết được nguyên
nhân trực tiếp gây bệnh ví dụ như là do bệnh thận, do u bướu, hay là do thuốc
ngừa thai dạng uống.
Khoảng 73 triệu người trưởng thành ở Mỹ
bị ảnh hưởng bởi căn bệnh tăng huyết áp. Căn bệnh này cũng ảnh hưởng lên khoảng
2 triệu thanh thiếu niên ở quốc gia này.
Mặc dù nguyên nhân chính xác gây ra
tăng huyết áp vẫn chưa được biết rõ nhưng có một số yếu tố có mối liên kết rất
chặt chẽ với căn bệnh tăng huyết áp như:
· - Hút
thuốc lá.
· - Béo
phì hoặc dư cân.
· - Đái
tháo đường.
· - Công
việc đòi hỏi phải ngồi lâu.
· - Thiếu
hoạt động thể lực.
· - Lượng
muối ăn vào nhiều.
· - Thiếu
hấp thu calci, kali, magiê.
· - Thiếu
hụt viatmin D.
· - Uống
rượu nhiều.
· - Căng
thẳng.
· - Tuổi
già.
·
Các
loại thuốc ví dụ như thuốc ngừa thai dạng uống.
·
Gen:
yếu tố về gia đình cò người có tiền căn bị tăng huyết áp.
·
Bệnh
thận mạn tính.
·
Bướu
hay các bệnh lý của tuyến thượng thận hay tuyến giáp.
Không có gì bảo đảm rằng một người bị cao huyết áp sẽ có biểu hiện các triệu chứng của căn
bệnh này. Khoảng 33% trường hợp thực sự không biết là mình bị cao huyết áp.
Vì vậy, khuyên rằng mọi người nên đi
khám và đo huyết áp định kỳ cho dù rằng không có bất cứ triệu chứng nào của
bệnh tăng huyết áp
Những triệu chứng
tăng huyết áp nặng có thể có như:
·
Đau
đầu dữ dội.
·
Mệt
mỏi.
·
Hoa
mắt chóng mặt.
·
Nôn
ói.
·
Có
vấn đề về thị giác.
·
Đau
ngực.
·
Các
vấn đề về hô hấp.
·
Tiểu
máu.
Vậy chẩn đoán bệnh
tăng huyết áp như thế nào?
Bệnh tăng huyết áp được sẽ được các
chuyên gia về sức khỏe đo huyết áp cho bằng một dụng cụ gọi là huyết áp
kế. Các chỉ số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương sẽ được ghi nhận và so
với bảng giá trị bình thường. Nếu huyết áp lớn hơn 140/90 mmHg, nghĩa là bạn bị
tăng huyết áp.
Tuy nhiên, một chỉ số kết quả huyết áp
cao nhất thời có thể là tăng huyết áp giả tạo hoặc là do sự căng thẳng.
Để tiến hành chẩn đoán bệnh tăng huyết
áp, các bác sĩ lâm sàng sẽ khám và hỏi về tiền căn bệnh lý của bạn và gia đình
bạn. Bác sĩ cần phải biết rằng liệu bạn có nguy cơ cao bị tăng huyết áp như hút
thuốc lá, cholesterol máu cao, hay là đái tháo đường hay không.
Nếu như có thể giải thích được lý do
tăng huyết áp, các xét nghiệm như đo điện tim sẽ được thực hiện để đo lượng mức
độ hoạt động điện của tim và khảo sát các cấu trúc của tim. Các xét nghiệm máu
khác cũng rất cần thiết để xác định nguyên nhân của tăng huyết áp thứ phát như
khảo sát chức năng thận, nồng độ các chất điện giải, đường huyết và nồng độ
cholesterol trong máu.
Điều trị bệnh tănghuyết áp như thế nào?
Mục đích chính của điều trị bệnh tăng
huyết áp là giữ cho huyết áp dưới 140/90 mmHg, hoặc thậm chí là thấp hơn đối
với những bệnh nhân có bệnh đái tháo đường hay bệnh thận mạn tính kèm theo.
Việc điều trị tăng huyết áp rất quan trọng trong việc làm giảm nguy cơ bị đột
quỵ, đau thắt ngực, suy tim.
Huyết áp cao có thể điều trị bằng
thuốc, bằng cách thay đổi lối sống hoặc kết hợp cả hai. Việc thay đổi lối sống
như là giảm cân, bỏ hút thuốc lá, ăn những thức ăn có lợi cho sức khỏe, giảm
lượng muối ăn vào, tập thể dục thường xuyên, giới hạn lượng rượu uống vào.
Thuốc điều trị tăng huyếp áp bao gồm:
thuốc ức chế men chuyển, thuốc ức chế beta, thuốc ức chế thụ thể angiotensin,
thuốc ức chế alpha, thuốc dãn mạch ngoại biên, thuốc ức chế chuyển canxi. Đây
là các thuốc đầu tay trong điều trị tăng huyết áp. Các thuốc này có thể được sử
dụng đơn độc hoặc phối hợp với nhau tùy thuộc từng bệnh nhân.
Làm thế nào để phòng ngừa tăng huyết áp?
Có thể phòng ngừa tốt chứng tăng huyết
áp bằng cách thay đổi lối sống, trong đó cơ bản là thay đổi chế độ ăn và tập
thể dục. Điều quan trọng là phải giữ cân nặng vừa phải, giảm lượng muối ăn vào,
giảm uống rượu và giảm căng thẳng.
Để phòng ngừa tổn thương các cơ quan và
các bệnh lý có thể gây ra tăng huyết áp như suy tim, tổn thương thận, điều
quan trọng là phải được tầm soát, chẩn đoán, điều trị và kiểm soát huyết áp tốt
trong giai đoạn đầu.
Xem thêm Video máy đo huyết áp Omron
>> Công ty CFV Chuyên Cung cấp máy đo huyết áp Omron Nhật Bản
>> Liên hệ: 024.85886151 - 0986 122 292 - 0944 36 22 66
-> Xem thêm: Chữa khỏi hoàn toàn bệnh cao huyết áp nhờ Hòa Áp Trà
Mời các bạn xem thêm:
http://www.thegioisuckhoe.net/







0 nhận xét:
Đăng nhận xét